Như bất kỳ sinh viên lịch sử nào cũng biết, trong các vấn đề chính trị và báo chí, điều không được nói ra cũng quan trọng bằng điều đó.  Đó là sự tuyên truyền im lặng

 Các chế độ áp bức (Liên Xô cũ, Cuba, Triều Tiên, Trung Quốc) thống nhất kiểm soát mọi hình thức truyền thông, yêu cầu thông tin duy nhất được phổ biến cho người dân là những gì chính phủ phê duyệt trước. Đó là sự tuyên truyền im lặng .

Những người dũng cảm bất chấp những sắc lệnh đó không chỉ mạo hiểm công ăn việc làm mà còn cả tự do và tính mạng của họ để phá vỡ sự tuyên truyền im lặng này . Tức khắc các hình phạt đối với việc vi phạm các lệnh cấm của chính phủ bao gồm đóng cửa các cơ sở truyền thông không vâng lời, bỏ tù các biên tập viên và phóng viên bất hợp tác (và / hoặc gia đình của họ) và thậm chí là xử tử.

Tuy nhiên, Ở  Hoa Kỳ lại là lại chuyện khác và thật không bình thường. Các phương tiện truyền thông quốc gia của chúng ta bao gồm cả các phương tiện truyền thông xã hội đa quốc gia (Google, Facebook, Twitter, YouTube), đang tham gia vào một nỗ lực hoàn toàn tự nguyện – một nỗ lực không được ủy quyền bởi bất kỳ quan chức chính phủ hoặc cơ quan nào – để đưa ra một loạt thông tin sai lệch (được tạo ra phần lớn nhưng không phải của riêng Đảng Dân chủ) và làm tắc nghẽn luồng dữ kiện và thông tin chính xác mà báo chí thấy là không phù hợp về mặt chính trị. Hoặc là cấm đoán không cho xuất hiện các tin tức liên quan sự việc chân thật đang diễn ra .Người ta gọi đó sự tuyên truyền im lặng

Chiến dịch của báo chí để thu hút công chúng tin vào những lời nói dối mà nó bán rong đã diễn ra trong nhiều thập kỷ. Một danh sách đầy đủ sẽ có nhiều tập, nhưng một vài ví dụ đáng chú ý bao gồm những điều sau:

– Việc Walter Cronkite cố ý xuyên tạc cuộc Tổng tấn công Tết Mậu Thân trong Chiến tranh Việt Nam là một chiến thắng của Bắc Việt (đó là một thất bại vang dội). Điều này nhằm mục đích biến tình cảm của công chúng chống lại chiến tranh, và nó đã hiệu quả. Dù người ta có thể nghĩ gì về sự khôn ngoan khi tham gia vào các cuộc chiến tranh ở Đông Nam Á, thì đây là một lời nói dối khủng khiếp khiến các đồng minh Nam Việt Nam của chúng ta phải trả giá đắt.

– Khuếch đại những cáo buộc cuồng loạn của Đảng Dân chủ rằng ứng cử viên tổng thống của Đảng Cộng hòa năm 2012 Mitt Romney phải chịu trách nhiệm về cái chết của một phụ nữ vì bệnh ung thư, và rằng ông và người điều hành Paul Ryan muốn người già chết. Dối trá.

– Công khai những tuyên bố gây phẫn nộ rằng hiện-Phó Thẩm phán Tòa án Tối cao Brett Kavanaugh đã cưỡng hiếp tập thể phụ nữ khi còn học trung học. Dối trá. Báo chí ủng hộ luật sư của người tố cáo, Michael Avenatti, cho anh ta hàng trăm lần xuất hiện trên truyền hình theo đúng nghĩa đen và thậm chí còn chào anh ta như một ứng cử viên tổng thống tiềm năng của đảng Dân chủ. Những giấc mơ viễn vông đó đã chết khi Avenatti sau đó bị kết tội tống tiền.

Và tất nhiên, có những cáo buộc vô lý rằng Tổng thống Donald Trump đang “thông đồng” với Nga để ảnh hưởng đến cuộc bầu cử tổng thống năm 2016. Sự hỗn hợp này được tạo ra từ toàn bộ vải; được chi trả bởi chiến dịch của Hillary Clinton; được hỗ trợ bởi các ứng dụng FBI bịa đặt cho lệnh FISA được sử dụng để do thám Trump và các nhân viên chiến dịch của ông; và được sử dụng làm cơ sở cho một “cuộc điều tra” trị giá 32 triệu đô la không đưa ra bằng chứng về sự thông đồng.

Khi báo chí thường xuyên nói dối về những người bảo thủ và đảng Cộng hòa nói chung, Trump chắc chắn đã nhận được điều tồi tệ nhất về sự cuồng loạn của mình. Một trong những lý do khiến phương tiện truyền thông của chúng ta gọi Donald Trump là “kẻ phát xít” và là một nhà độc tài đầy tham vọng là bởi vì nó nuôi sống họ tưởng tượng rằng họ đang “dũng cảm” và “không sợ hãi” khi đối mặt với cuộc đàn áp tiềm tàng của ông. Trên thực tế, họ là một nhóm những kẻ thao túng đắm chìm trong ánh sáng của sự khen ngợi của người khác để đáp lại những lời buộc tội bị kết tội của chính họ.

Tuy nhiên, sự dối trá của giới truyền thông cũng tệ hại như thế, sự đàn áp thông tin của nó cũng là một mối đe dọa lớn. Chiến thuật này cũng có từ nhiều thập kỷ trước. Vào những năm 1930, phóng viên Walter Duranty của New York Times đã đưa tin về nạn đói và tàn sát hàng triệu người Ukraine của nhà độc tài Liên Xô Josef Stalin.

Gần đây hơn, NBC đã từ chối để phóng viên Ronan Farrow công bố những tiết lộ của anh ta về nhà sản xuất Hollywood (và người đứng đầu đảng Dân chủ lớn) Harvey Weinstein. ABC đã bỏ qua báo cáo về Jeffrey Epstein có thể khiến một số thành viên Đảng Dân chủ nổi tiếng (bao gồm cả cựu Tổng thống Bill Clinton) rơi vào tình thế bất lợi.

Ngày nay, việc tuyên truyền về sự im lặng vẫn tiếp tục diễn ra. Tuần này, có thông báo rằng con trai của Tổng thống đắc cử Joe Biden là Hunter Biden hiện đang bị điều tra vì các vấn đề tiềm ẩn về thuế. Tiện như thế nào. Trong chiến dịch tranh cử tổng thống, khi cuộc điều tra bí mật của Dự án Veritas tiết lộ, CNN hoàn toàn từ chối đưa tin về câu chuyện Hunter Biden bị cáo buộc đã bán hàng rong để tiếp cận chính quyền Obama để đổi lấy hàng triệu đô la. Twitter được cho là đã kiểm duyệt tài khoản của New York Post sau khi tờ báo đưa tin về vụ bê bối Biden. Facebook cũng kiểm soát nội dung.

Những thiếu sót này quan trọng. Nhiều cử tri đảng Dân chủ tuyên bố chưa bao giờ nghe về câu chuyện và 1/6 đã nói rằng những tiết lộ đó sẽ ảnh hưởng đến lá phiếu của họ. Điều đó không có gì đáng ngạc nhiên; trong số những người đã nghe câu chuyện, phần lớn tin rằng Joe Biden biết về các hoạt động của con trai mình.

Một số lượng lớn người Mỹ – 70% đảng viên Cộng hòa và thậm chí 30% đảng viên Dân chủ – tin rằng gian lận bầu cử năm nay diễn ra trước, vào và sau Ngày bầu cử. Báo chí muốn mọi người tin rằng nguyên nhân duy nhất cho tình cảm lan rộng đó là những cáo buộc khoa trương của Trump. Do đó, hầu như không có thông tin nào về các phiên điều trần ở Arizona, Michigan, Pennsylvania và Georgia mà tại đó hàng trăm nhân chứng đã làm chứng về hành vi đáng ngờ và thậm chí có khả năng bất hợp pháp vào đêm bầu cử và sau đó. Và mặc dù các vụ kiện tụng đang diễn ra – bao gồm ít nhất hai trường hợp vẫn đang chờ xử lý trước Tòa án Tối cao Hoa Kỳ – báo chí tường thuật rằng đây là một thỏa thuận đã xong và Trump chỉ cần nhượng bộ. (Thật kỳ lạ làm sao báo chí lại không có thái độ đó khi ứng cử viên Đảng Dân chủ Al Gore đang thách thức kết quả bầu cử năm 2000.)

YouTube đã thông báo vào hôm thứ Tư tuần này rằng họ sẽ bắt đầu gỡ bỏ bất kỳ video nào mà các tác giả cho rằng hành vi gian lận cử tri trong cuộc bầu cử tổng thống năm 2020. Điều này không liên quan đến việc những tuyên bố đó có đúng hay không.

Nhưng đó là điển hình. Các nhà kiểm duyệt gần như luôn cố gắng ngăn không cho công chúng biết được sự thật. Báo chí phàn nàn rằng nó đã giảm uy tín. Thật không may cho báo chí – và cho đất nước – nó có một lịch sử gian dối và phủ nhận lâu đời. Không có lý do gì để nghĩ rằng nó đang làm bất cứ điều gì khác biệt bây giờ.

Theo Laura Hollis- Townhall